Bình Dương | Hình thành và lịch sử

HÌNH THÀNH LỊCH SỬ TỈNH BÌNH DƯƠNG; THÀNH PHỐ THUẬN AN BÌNH DƯƠNG; BÌNH DƯƠNG;  TỈNH BÌNH DƯƠNG; QUY HOẠCH TỔNG THỂ BÌNH DƯƠNG; THỦ DẦU MỘT 

tinh-binh-dương

TỈNH BÌNH DƯƠNG

HÌNH THÀNH LỊCH SỬ TỈNH BÌNH DƯƠNG

Tháng 2 năm 1936 thực hiện nghị quyết. Đại hội Đảng lần thứ nhất đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ hiện tại. Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ định Ban Chấp hành. Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một gồm 5 ủy viên. Đến tháng 1 năm 1937, Trung ương Đảng chính thức công nhận. Tỉnh ủy lâm thời, với tên gọi chính thức là. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một.

Khi Thế chiến II bùng nổ, chính quyền thực dân. Pháp trấn áp các phòng trào đòi độc lập. Tháng 11 năm 1940, Khởi nghĩa. Nam Kỳ nổ ra bất thành, chính quyền thực dân. Pháp khủng bố ác liệt, nhiều đảng viên phải lẩn tránh nhiều nơi. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một bị xóa sổ.

Giữa năm 1942, nhiều đảng viên tập hợp quay trở lại, tháng 3 năm 1943. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được tái lập. Tháng 5 năm 1943, Bí thư các Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Biên. Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh họp lại thành lập. Liên Tỉnh ủy miền Đông để chỉ đạo chung các phong trào tại địa phương.

Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra,. Tỉnh ủy chức tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh và thành lập. Ủy ban nhân dân tỉnh. Giữa tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh đổi tên thành. Ủy ban Hành chánh kháng chiến tỉnh.

Cuối tháng 9 năm 1945, Liên quân Anh – Pháp nổ súng quân tái chiếm Nam Bộ. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Nam. BỘ quyết định Nam Bộ kháng chiến. Thực hiện chủ trương “giải tán” của. Đảng ngày 11/11/1945,. Tỉnh ủy cũng tiến hành tự “giải tán”, thực chất phát triển phong trào cách mạng dưới tên Việt Minh.

Theo chủ trương tháng 3 năm 1951 của. Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Biên Hòa sáp nhập thành. Tỉnh ủy Thủ Biên, hoạt động đưới sự chỉ đạo của. Phân liên khu ủy miền. Đông gồm đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn, và 5 tỉnh Gia Định Ninh,. Thủ Biên, Bà Rịa – Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Đại diện cho Trung ương là cơ quan Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hoạt động trên toàn miền Nam.

Sau khi Hiệp định. Geneve được ký,. Tỉnh ủy Thủ Biên chuẩn bị lực lượng thi hành Hiệp định. Theo các thảo thuận về tập kết 2 bên, Xứ ủy Nam. Bộ quyết định phân chia lại địa bàn các tỉnh để phù hợp với tình hình mới. Cuối năm 1954 Tỉnh Thủ Biên tách lại 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Tháng 1/1955 Hội nghị Ban Chấp hành tỉnh Thủ Dầu Một được tổ chức.

Sau khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại làm. Tổng thống, thực thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”. Từ năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm nhiều cuộc càn quét quy mô lớn khiến cho. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một tổn thất rất lớn. Đầu năm 1960, phong trào. Đồng khởi tại Bến Tre nổ ra. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập. Ban chỉ đạo đồng khởi của tỉnh và tiến hành đồng khởi tại tỉnh tháng 2 năm 1960. Tuy nhiên, đồng khởi nhanh chóng bị trấn áp và thất bại.

Để phù hợp tình hình mới, Xứ ủy Nam Bộ sáp nhập 2 tỉnh. Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Tháng 9/1960 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Biên được chỉ định. Đầu năm 1961 Trung ương. Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trung ương Cục quyết định tách ra, tái lập lại 2 tỉnh Biên Hòa,. Thủ Dầu Một và thành lập tỉnh. Phước Thành để phù hợp với chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Tháng 6/1961 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và. Tỉnh ủy Phước Thành được thành lập.

Tháng 10/1967 Bộ Chính trị phê chuẩn Nghị quyết của. Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy. Miền về tiến hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa, còn gọi. “Nghị quyết Quang Trung”. Trung ương Cục quyết định sắp xếp lại các lực lượng để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Tổ chức thành 5 phân khu hướng tiến công. Sài Gòn – Gia Định và khu vực xung quanh. Căn cứ vào tình hình chiến trường, Trung ương Cục quyết định thành lập. Ban Chấp hành các phân khu thay cho các Tỉnh ủy. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được sáp nhập vào Ban chấp hành Phân khu ủy Phân khu 5.

Tháng 6/1969 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền. Nam Việt Nam được thành lập. Để đáp ứng nhiệm vụ mới, tháng 5/1971. Trung ương Cục quyết định sáp nhập Phân khu 5 và tỉnh. Biên Hòa thành Phân khu Thủ Biên, Trung ương Cục chỉ định..Ban chấp hành Phân khu ủy Thủ Biên. Đến cuối năm 1972, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại chiến trường miền. Đông Nam Bộ, giải thể các Phân khu, thành lập lại các tỉnh. Tháng 9/1972 Phân khu Thủ Biên được giải thể, tỉnh. Thủ Dầu Một được tái lập. Trung ương cục chỉ định Tỉnh ủy Thủ Dầu Một.

Tháng 12/1975 Bộ Chính trị ban hành. Nghị quyết số 19-NQ/TW về phát triển đất nước sau chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam. Việt Nam đã ban hành các nghị quyết giải thể khu, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976 tỉnh Thủ Dầu Một và. Bình Phước được sáp nhập thành tỉnh. Sông Bé, đồng thời Trung ương Cục cũng chỉ định. Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé.

Tháng 11/1976, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh. Sông Bé lần thứ nhất (vòng 1) diễn ra từ ngày. 10-20/11/1976, nhiệm vụ chính là tham gia thảo luận ý kiến chính trị, bầu đại biểu tham dự. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ngày 19/4/1977, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh. Sông Bé lần thứ nhất (vòng 2) được khai mạc. Đại hội đã chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sông Bé với nhiệm kỳ 1976-1979. Sau Đại hội, Tỉnh ủy tiến hành đại hội. Đảng vòng 2 ở các Đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy.

Tại kỳ họp thứ 10 (15/10-12/11/1996) Quốc hội khóa. IX ra nghị quyết về việc chia tách tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó có tỉnh. Sông Bé. Ngày 1/1/1997 tỉnh Bình Dương được tái lập. Trước đó ngày 12/12/1996 Bộ Chính trị ra Nghị quyết. 118-QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương và chỉ định. Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương.

Thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của. Ban Bí thư và Hướng dẫn 06-HD/TC-TW ngày 23/7/1997 của Ban Tổ chức. Trung ương về việc chuẩn bị và tiến hành. Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố mới được chia tách. Tỉnh ủy lâm thời tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh. Bình Dương lần thứ VI từ 17-19/12/1997. Đại hội chính thức bầu .Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương khóa VI gồm 47 ủy viên.

quy-hoạch-tong-the-binh-duong

 Một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam.

Tỉnh lỵ của Bình Dương là thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm. Thành phố Hồ Chí Minh 30 km theo đường Quốc lộ 13. Đây là tỉnh có dân số đông thứ 6 trong. 63 tỉnh thành và cũng là tỉnh có tỷ lệ gia tăng dân số cơ học rất cao do có nhiều người nhập cư, hơn. 50% dân số Bình Dương là dân nhập cư.

Là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như. Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu. Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên. (nay là huyện Bắc Tân Uyên và thị xã Tân Uyên), vùng. Tam giác sắt trong đó có ba làng An. Ngoài ra còn có khu du lịch Đại Nam là khu du lịch lớn nhất Đông Nam Á.

Bình Dương nổi tiếng với nhiều món ăn ngon và đặc sản lâu đời. Như hạt điều, trái cây và đặt biệt là yến sào, thương hiệu Bảo Yến. Bình Dương (đường Nguyễn Trãi) là một thương hiệu yến sào nổi tiếng và uy tín nhất Bình Dương.

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. [4], với diện tích 2694,4 km2, xếp thứ 4 trong vùng. Đông Nam Bộ[5]. Có tọa độ địa lý là 10o51’46″B – 11o30’B, 106o20′ Đ – 106o58’Đ.

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước

Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh

Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai

Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa hình Bình Dương tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng. 5 đến tháng 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng. 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm. 1.800 mm đến 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC.

Bình Dương là cửa ngõ giao thương với. Thành phố Hồ Chí. Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước,. Có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia. Chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên. Á … cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ. 10 km – 15 km… thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội toàn diện. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao,. GRDP tăng bình quân khoảng 14,5%/năm.

Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh. Và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ công nghiệp – xây dựng 63%, dịch vụ. 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%. Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích hơn. 8.700 ha với hơn. 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ[5].

Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam. Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng từ cao xuống thấp dần từ. 10m đến 15m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau như:

Vùng thung lũng bãi bồi: phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé. Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6 – 10m.

Vùng địa hình bằng phẳng: nằm kế tiếp sau. Các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ dốc. 3 – 120, cao trung bình từ 10 – 30m.

Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu: nằm trên. Các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau,. Có độ dốc 5 – 120, độ cao phổ biến từ 30 – 60m.

QUY HOẠCH TỔNG THỂ BÌNH DƯƠNG

 

quy hoạch tổng thể bình dương
Quy hoạch tổng thể bình dương

Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Các loại đất như đất xám trên phù sa cổ, có diện tích. 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, thị xã Bến Cát, Thuận An, Thủ Dầu Một. Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng. 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các thị xã. Tân Uyên, huyện Phú Giáo, khu vực Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện. Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, thị xã Dĩ An, đất thấp mùn Glây có khoảng. 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối.

Quy hoạch tổng thể Bình Dương hình thành các khu đô thị, các. KCN, cụm sản xuất cùng với quá trình khai thác khoáng sản. Với quy mô lớn (chủ yếu tập trung tại phía Đông của huyện Dĩ An, phía Nam của huyện Tân. Uyên và thị trấn Mỹ Phước của huyện Bến Cát) đã làm biến đổi bề mặt địa hình. Của khu vực, làm mất đi những đường nét tự nhiên, gây nhiều tác động tiêu. Cực như thúc đẩy quá trình rửa trôi bề mặt và xâm thực bào mòn. Các bề mặt sườn.

Bình Dương để đảm bảo phát triển hài hòa giữa kinh tế – xã hội và bảo. Vệ môi trường, tỉnh đã đặt ra các mục tiêu cụ thể về môi trường đến. 2015 như sau: tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt. 95%, tỷ lệ chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt. 100%; hộ dân thành thị sử dụng nước sạch đạt tỷ lệ. 99%, các hộ nông dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỷ lệ 98% và tỷ lệ che phủ rừng, cây lâm nghiệp, cây lâu năm đạt 57%. Chú trọng gắn kết quy hoạch tổng thể Bình Dương kinh tế xã hội, quy hoạch ngành với quy hoạch khai thác tài nguyên và chiến lược bảo vệ môi trường. Quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên chặt chẽ, tiết kiệm phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tiến dần đến việc hạn chế và cấm dần việc khai thác tài nguyên. Ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, phục hồi và nâng cao chất lượng môi trường nước trên các sông Sài Gòn, Đồng Nai.

Năm 2018, dân cư đông thứ bảy về số dân, xếp thứ tư về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ tư về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 18 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 2.163.600 người dân[2], GRDP đạt 282.999 tỉ Đồng (tương ứng với 12,2909 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 130,8 triệu đồng (tương ứng với 5.681 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,01%.

Dân cư dân số

Năm

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2017

2019

Dân số

639.000

658.500

679.000

700.100

720.800

779.400

845.500

910.000

1.000.000

1.037.100

1.109.300

1.203.700

1.307.000

1.402.700

1.512.500

1.619.900

1.691.400

1.748.000

1.802.500

2.051.906

2.426.561

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THÀNH PHỐ THUẬN AN THÔNG TIN CHÍNH THỨC

Theo Chủ tịch UBND thị xã Thuận An (tỉnh Bình Dương) Nguyễn Thanh Tâm, hiện nay thị xã Thuận An đã cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại 2, dự kiến đến năm 2020 sẽ được nâng lên thành phố Thuận An trực thuộc tỉnh Bình Dương.

Việc thành lập Thành phố Thuận An trực thuộc tỉnh Bình Dương là nhu cầu khách quan và phù hợp với quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã được phê duyệt nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của thành phố Thuận An nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Do đó, thành lập thành phố Thuận An trực thuộc tỉnh Bình Dương đã được Bộ nội vụ, Văn phòng chính phủ, Văn phòng quốc hội đồng thuận thông qua. Theo đó, TX Thuận An sẽ lên Thành phố Thuận An được chuyển nguyên trạng từ Thị xã trước năm 2020. Thành phố Thuận An Bình Dương sẽ trở thành thành phố vệ tinh TP. HCM.

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ

PHÒNG KINH DOANH: 0936.009.008

CHÚC QUÝ KHÁCH SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG, TRÂN TRỌNG!

 

Đình Phước